
Tóm tắt:
An Giang là tỉnh có tiềm năng về nuôi trồng thủy sản và các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao như cá tra, cá basa, tôm càng xanh,... Trong đó, đặc biệt là cá tra, là một trong những thế mạnh phát triển kinh tế của Đồng bằng Sông Cửu Long. Tổng diện tích đang nuôi thủy sản ở An Giang khoảng 2.400 ha (kể cả diện tích sản xuất giống), trong đó diện tích nuôi cá tra 1.400 ha, nuôi lồng bè có tất cả 1.952 cái, gồm các loại cá tra, ba sa, rô phi, điêu hồng… lượng nước thải ra từ quá trình nuôi rất lớn (6,3 ÷ 8,4 triệu m3/ngày). Chất lượng nước tại các khu vực nuôi trồng thủy sản là vấn đề mà người nuôi cần chú ý để điều chỉnh và giảm thiểu rủi ro trong quá trình nuôi trồng thủy sản. Kết quả quan trắc chất lượng nước trong 5 năm từ 2006-2010 của Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Tài nguyên môi trường An Giang cho thấy tại khu vực nuôi chân ruộng ô nhiễm chủ yếu chất rắn lơ lửng (TSS) năm 2007 là 116,80 mg/l vượt 5,84 lần QCVN 08:2008, chất hữu cơ (năm 2008) là 31mg/l vượt 7,75 lần QCVN 08:2008. Tại các ao hầm thì hàm lượng đạm trong nước (NH4+) vượt 37,4 lần QCVN 08:2008; coliform năm 2006 vượt 231,5 lần QCVN 08:2008.
Toàn tỉnh hiện đang có 17 nhà máy chế biến cá tra xuất khẩu và hơn 10 nhà máy đang chuẩn bị xây dựng. Lượng nước thải ra từ nhà máy từ chế biến khoảng 2.000: 6000 m3/ngày cho mỗi nhà máy. Với một lượng nước rất lớn được xả vào kênh, sông trong một thời gian dài, làm khả năng tự làm sạch của kênh, sông trong thời gian tới sẽ bị suy giảm và dần dần bị ô nhiễm đặc biệt là ở các kênh lưu lượng nước nhỏ khả năng tự làm sạch yếu thì nguy cơ ô nhiễm là không tránh khỏi. Để bảo vệ môi trường nước tại các khu vực nuôi trồng thủy sản ngoài việc quản lý quy hoạch nâng cấp các vùng nuôi thì tất cả các hộ nuôi phải có hệ thống xử lý nước thải, biogas, bùn thải đạt qui chuẩn.
Giới thiệu chung
Sông Mekong là con sông lớn nhất Đông Nam Á với chiều dài 4.200 km và có diện tích lưu vực 795.000 km2, chảy qua 6 quốc gia là Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.
Đồng bằng sông Cửu Long là phần cuối của hệ thống sông Mekong đổ ra biển Đông thuộc lãnh thổ Việt Nam, có diện tích 39.000 km2, chiếm 8% diện tích toàn lưu vực (MRC,1997). Hàng năm vào mùa nước lũ, nước sông Mekong làm ngập cả một diện tích rộng lớn từ 1,4-1,9 triệu ha, chiếm 40-50% diện tích đồng bằng sông Cửu Long.
An Giang là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long với diện tích tự nhiên 3.424 km2, cùng với hệ thống sông ngòi dầy đặc đã tạo nên một khu hệ sinh thái đặc trưng vùng nội địa. Hàng năm vào đầu mùa lũ khoảng tháng 7-8, mực nước sông Cửu Long lên rất nhanh làm ngập một vùng diện tích rộng lớn đặc biệt là 2 khu vực Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười. Ngoài lượng phù sa bồi đắp hàng năm nước lũ còn đem lại một nguồn lợi thuỷ sản to lớn rất có ý nghĩa đối với đời sông ngư dân tỉnh An Giang nói riêng, đồng bằng sông Cửu Long nói chung.
An Giang có hệ thống sông ngòi chằng chịt với hơn 600 kênh rạch cấp 1, 2 và nhiều kênh rạch cấp 3 chưa được thống kê. Có tổng chiều dài 5.500 km, với mật độ 1,6 km.km-2,nguồn nước ngọt quanh năm thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp đặc biệt là nuôi trồng thủy sản. Theo Thống kê của Chi cục Thủy sản An Giang thì sản lượng nuôi trồng năm 2010 khoảng 105.000 tấn trong đó sản lượng cá tra chiếm tỷ trọng cao nhất trong các loại thủy sản đạt khoảng 81,17%. Tuy nhiên diễn biến môi trường nước tại các khu vực nuôi trồng thủy sản không theo quy luật và tiềm ẩn những rủi ro cho người nuôi. Nhằm ngăn ngừa ô nhiễm và các sự cố xảy ra cũng như giúp cho việc cảnh báo những nguy cơ bất lợi nhằm giảm thiểu các rủi ro trong các hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản từ năm 2006 Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức quan trắc chất lượng nước các vùng nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh.
I. Hiện trạng nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh An Giang
1. Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản
Trong giai đoạn 2005-2008 sản lượng nuôi trồng thủy sản liên tục tăng năm 2008 đạt 133.478 tấn. Tuy nhiên trong 2 năm trở lại đây từ năm 2009-2010 sản lượng thủy sản giảm hẳn năm 2010 chỉ đạt 105.161 tấn do giá nguyên liệu đầu vào tăng cao. Mặt khác do thiếu vốn đầu tư nên những hộ nuôi nhỏ lẻ dường như nghỉ hẳn…Quy mô nuôi vẫn chưa có nhiều chuyển biến, diện tích thả nuôi cá tra thấp hơn so với cùng kỳ.

2. Sản lượng nuôi trồng một số loại thủy sản
Trong các loại thủy sản nuôi thì cá tra thì sản lượng nuôi cá tra chiếm tỷ trọng cao nhất. Sản lượng cá tra cũng tăng trong giai đoạn 2005-2008 và giảm trong năm 2009. Năm 2010 sản lượng cá tra là 85.360 tấn chiếm 81.17% tổng sản lượng thủy sản nuôi. Trong đó cá tra nuôi ao hầm, đăng quầng là 85225 tấn và tra nuôi bè chỉ có 135 tấn.

3. Sản lượng nuôi trồng theo các loại hình nuôi
Sản lượng nuôi trồng cao nhất ở loại hình nuôi ao chiếm 88,16% tổng sản lượng nuôi. Từ năm 2009-2010 thì loại hình nuôi này giảm so với năm 2007 và năm 2008. Loại hình nuôi bè so với năm 2005 thì năm 2010 có giảm tuy nhiên từ năm 2007-2010 thì sản lượng loại hình này không thay đổi nhiều chiếm 9,47% tổng sản lượng nuôi. Loại hình nuôi chân ruộng, đăng quầng có xu hướng tăng trong thời gian gần đây chiếm 2,39%.

II. Hiện trạng môi trường nước tại các khu vực nuôi trồng thủy sản
Theo Kết quả quan trắc từ năm 2006-2010 các khu vực nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh An Giang cho 4 loại hình nuôi đăng quầng, nuôi ao, nuôi bè, nuôi chân ruộng của Trung tâm Quan trắc Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường như sau:
1. Chỉ tiêu DO

Nồng độ DO qua các đợt quan trắc có sự biến động lớn từ năm 2006 đến 2007 tăng mạnh sau đó giảm dần xuống trong năm 2008 tăng trong năm 2009 và 2010
Khu vực đăng quầng: trung bình DO năm 2010 tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2009, 2008.
Khu vực bè: tương tự DO năm 2010 trung bình 4,91 mg/l cũng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2008, 2009.
Khu vực ao: tương tự DO năm 2010 trung bình 5,53 mg/l cũng tăng so với năm 2008, 2009.
Khu vực chân ruộng: DO năm 2010 trung bình đạt 3,9 mg/l tăng so 2008, 2009 thấp hơn năm 2007 DO (4,6mg/l).
Nhìn chung, Tuy hàm lượng oxy hòa tan trong nước năm 2010 tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2008, 2009 tuy nhiên đều không đạt so với QCVN 08:2008 và TCVN 6774:2000. Tương tự như các năm trước thì khu vực nuôi đăng quầng, bè và ao có DO tương đối cao hơn so với khu vực nuôi chân ruộng. Loại hình nuôi bè và đăng quầng sử dụng nguồn nước trực tiếp từ sông và có sự lưu thông nước liên tục trên dòng chảy nên việc khuyết tán oxi trong nước luôn được duy trì và cao hơn so với loại hình chân ruộng. DO thấp ảnh hưởng nhiều đến quá trình oxy hóa các chất hữu cơ trong nước cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến hô hấp của vật nuôi
2. Chỉ tiêu TSS

Chỉ tiêu SS qua các năm quan trắc cho thấy luôn dao động, không theo một xu hướng nào, năm 2007 tăng đột biến và cao hơn so với các năm 2006, 2008, 2009, 2010. Tuy nhiên giai đoạn 2008-2010 TSS có xu hướng giảm còn 26,67mg/l (năm 2010) vượt nhẹ so QCVN08:2008 tuy nhiên vẫn đạt so TCVN 6774:2000.
Khu vực đăng quầng:trong 5 năm quan trắc khu vực đăng quầng, SS có xu hướng giảm dần.
Khu vực bè: SS biến động qua 5 năm quan trắc, tăng ở năm 2007 sau đó giảm xuống ở năm 2008 nhưng đến năm 2009 lại tăng mạnh và cao nhất 56mg/l và năm 2010 giảm xuống còn 27,33 mg/l vượt nhẹ so QCVN08:2008 tuy nhiên vẫn đạt so TCVN 6774:2000.
Khu vực ao: tương tự như khu vực bè, SS có xu hướng giảm trong giai đoạn 2008-2010.
Khu vực nuôi chân ruộng: Kết quả qua các năm cho thấy SS nuôi chân ruộng cao hơn so với 3 loại hình còn lại (đăng quầng, ao, bè) do khu vực chân ruộng thường nằm trong các khu kênh rạch nội đồng, lưu lượng nước thấp, kích thước kênh nhỏ trong khi đó lại tiếp nhận nước thải từ hoạt động nông nghiệp và nước thải sinh hoạt của người dân nên lượng SS thường rất cao.
3. Chỉ tiêu BOD5

BOD5 qua 5 năm quan trắc thì năm 2010 trung bình 7,6 mg/l thấp hơn so với những năm 2006, 2007, 2008 và vượt gần 2 lần QCVN08:2008 và đạt so với TCVN 6774:2000.
Theo kết quả quan trắc các năm ta có thể sắp xếp được mức độ ô nhiễm hữu cơ giữa các loại hình nuôi như sau: trung bình BOD5 cao nhất ở loại hình nuôi chân ruộng trung bình (19,45mg/l), kế đến là loại hình nuôi ao (11,5mg/l), cuối cùng là loại hình nuôi đăng quầng và bè (8,8mg/l)
4. Chỉ tiêu NH4+
Lượng amoni trong nước qua các năm quan trắc có sự biến động mạnh giữa các loại hình nuôi khác nhau cũng như giữa các năm và cao nhất ở loại hình nuôi ao năm 2009 trung bình lên đến 5,6 mg/l vượt 56 lần QCVN 08:2008 và 3,7 lần TCVN 6774:2000
Khu vực đăng quầng: NH4+ năm 2010 (0,256mg/l) giảm nhẹ so với năm 2009, 2008, 2007 và 2006.
Khu vực bè: NH4+ năm 2009 cao nhất so với các năm (1,33mg/l) gấp 13,3 lần
QCVN 08:2008 và nằm trong giới hạn cho phép TCVN6774:2000
Khu vực ao: Cao nhất 2009 trung bình lên đến 5,6 mg/l vượt 56 lần QCVN 08:2008 và 3,7 lần TCVN 6774:2000
Tóm lại, so với các năm thì loại hình nuôi ao có hàm lượng NH4+cao nhất, thường thì tại khu vực nuôi ao do lượng oxi trong nước của khu vực ao nuôi thấp, do đó làm hạn chế quá trình chuyển hóa amonithành nitrat/nitrit, do đó trong nước tồn tại amoni cao, bên cạnh đó, các chất thải từ cá cũng được thải ra ngoài khu vực ao nuôi nhưng lượng nước trong ao không thay nhiều trong quá trình nuôi cũng là một trong những nguyên nhân làm cho nồng độ amoni cao.

5. Coliform(MPN/100ml)
Kết quả năm 2010 cho thấy chất lượng nước tại tất cả các đợt quan trắc của các loại hình nuôi có mật độ vi sinh giảm nhiều so với 4 năm trước đây, tuy nhiên vẫn cao hơn so với quy chuẩn chất lượng nước mặt.
Khu vực đăng quầng: Mật độ vi sinh khu vực đăng quầng năm 2010 là 9245 MPN/100ml vượt 3,68 lần QCVN 08:2008 và nằm trong TCVN 6774:2000.
Khu vực bè: Năm 2010 coliform giảm nhiều so với các năm trước giảm còn 14719 MPN/100ml vượt 5,88 lần QCVN 08:2008.
Khu vực ao: Năm 2010 Coliform trung bình 10707 MPN/100ml vượt 4,28 lần QCVN 08:2008.
Khu vực nuôi chân ruộng: Năm 2010 Coliform trung bình 17599 MPN/100ml vượt 7,03 lần QCVN 08:2008.

Tóm lại: Tất cả các loại hình nuôi đều ô nhiễm nhẹ về chất hữu cơ, tổng chất rắn lơ lừng và coliform. Trong đó loại hình nuôi chân ruộng các chỉ tiêu DO, BOD5 , TSS ô nhiễm nhiều hơn các loại hình bè, đăng quầng và nuôi ao. Riêng loại hình nuôi ao thì ô nhiễm về đạm (NH4+) cao hơn các loại hình khác do trong ao nuôi thường tồn đọng một lượng lớn thức ăn dư thừa và chất bài tiết của cá do lượng nước không xáo trộn thường xuyên và hàm lượng oxi trong ao thấp hạn chế sự chuyển hóa đamh thành nitrat và nitrit. Theo nghiên cứu muốn có 1 kg cá da trơn thành phẩm, người nông dân đã phải sử dụng từ 3 - 5 kg thức ăn. Thực tế chỉ khoảng 17% thức ăn được cá hấp thu và phần còn lại (khoảng 83%) hòa lẫn trong môi trường nước trở thành các chất hữu cơ phân hủy điều này làm cho môi trường nước các khu vực nuôi thủy sản thường bị ô nhiễm chất hữu cơ. Nồng độ đạm trong nước khá cao do quá trình sử dụng thức ăn không hoàn toàn và bài tiết của cá.
III. Kết luận và kiến nghị
1. Kết luận
Loại hình nuôi bè và đăng quầng sản lượng nuôi trồng tương đối ổn định qua các năm các thông số môi trường vượt nhẹ Quy chuẩn như BOD5, TSS, DO, coliform. Diễn biến môi trường tại khu vực nuôi phụ thuộc vào thời tiết và mực nước của sông vào mùa lũ thì khu vực này BOD5, TSS thường tăng cao và DO giảm xuống. Diễn biến chất lượng nước qua 5 năm thì cũng được cải thiện. Tuy nhiên chất lượng nước khu vực này cũng không có sự thay đổi nhiều.
Loại hình nuôi chân ruộng mặc dù sản lượng nuôi năm 2009 chỉ khoảng 2.783 tấn (chiếm 2,39% tổng sản lượng thủy sản) tuy nhiên các thông số DO, TSS, BOD5 loại hình này cao hơn các loại hình còn lại do lưu lượng nước lưu thông bị hạn chế.
Loại hình nuôi ao hầm trong đó chủ yếu là nuôi cá tra chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản. Ở loại hình nuôi này chỉ tiêu về đạm vượt cao nhất so với các loại hình khác các thông số DO,TSS, BOD5 vượt nhẹ so với QCVN 08:2008. Năm 2010 BOD5 là 7,5mg/l vượt Quy chuẩn 1,2-2,3 lần coliform vượt khoảng 1,9-8,6 lần. So sánh giai đoạn 2006-2010 thì môi trường nước của loại hình này năm 2009-2010 cũng có phần cải thiện so với giai đoạn 2007-2008 la giai đoạn mà nuôi ao hầm phát triển mạnh.

Hiện nay đa số ở các huyện, thị xã, thành phố chỉ có khoảng 18 -32% hộ xử lý nước thải ao nuôi. Còn bùn thải từ các ao nuôi thải ra sông rạch chiếm tỷ lệ rất cao, gây ô nhiễm nguồn nước mặt, ở Châu Phú có 33%, Chợ Mới 25%, Long Xuyên 40% số hộ, cơ sở nuôi trồng thủy sản thải bùn trực tiếp vào kênh, rạch. Chất lượng nước ao nuôi thuộc dạng ô nhiễm nhẹ nhưng với một lượng nước rất lớn được xả vào kênh, sông trong một thời gian dài, làm khả năng tự làm sạch kênh, của sông trong thời gian tới sẽ bị suy giảm và dần dần bị ô nhiễm đặc biệt là ở các kênh lưu lượng nước nhỏ khả năng tự làm sạch yếu thì nguy cơ ô nhiễm là không tránh khỏi.

2. Kiến nghị
Để bảo vệ môi trường nước tại các khu vực nuôi trồng thủy sản cần thực hiện tốt các giải pháp:
+ Tất cả các hộ nuôi phải có hệ thống xử lý nước thải, biogas, bùn thải đạt qui chuẩn. Chất thải rắn phát sinh từ các bè cá trên sông, từ các bộ nuôi cá ao, hầm phải được thu gom triệt để và có biện pháp xử lý hợp lý.
+ Hạn chế sử dụng các loại thuốc, hóa chất trị bệnh cho tôm, cá có nguồn gốc hóa học, thay thế bằng các loại thuốc, hóa chất trong nuôi trồng thủy sản có nguồn gốc sinh học dễ phân hủy và tăng cường áp dụng các biện pháp phòng trừ dịch bệnh tổng hợp…Gia tăng thu hồi các bao bì chứa đựng thức ăn, các chế phẩm và thu hồi các chai lọ thuốc, hóa chất trị bệnh cho vật nuôi.
+ Kiểm soát diện tích nuôi trồng thủy sản đảm bảo các điều kiện nuôi và an toàn dịch bệnh. Quy hoạch đầu tư nâng cao năng lực các cơ sở sản xuất giống chất lượng, sạch bệnh và đáp ứng đủ cho sản xuất. Thực hiện có hiệu quả việc khai thác, đánh bắt thủy sản; tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về khai thác, đánh bắt thủy sản và các luật về bảo vệ môi trường trong Nuôi trồng thủy sản.
IV. Tài liệu tham khảo
1. Quy hoạch bảo vệ môi trường của tỉnh An Giang đến năm 2020 - Viện Nước và Công nghệ Môi trường, Tp Hồ Chí Minh.
2.Báo cáo hiện trạng môi trường 5 năm tỉnh An Giang 2005-2009 – Sở Tài nguyên và Môi trường An Giang, 2010.
3. Báo cáo chuyên đề quan trắc hiện trạng môi trường các khu vực nuôi trồng thủy sản tỉnh An Giang năm 2010 – Sở Tài nguyên và Môi trường An Giang, 2010.
4. Báo cáo quan trắc hiện trạng tỉnh An Giang năm 2010 – Sở Tài nguyên và Môi trường An Giang, 2010.
5. Kỷ yếu hội thảo ngày 8/4/2010 “Bảo vệ đất ngập nước đồng bằng sông Cửu Long” – Sở Tài nguyên và Môi trường An Giang, 2010.